Viêm não - Bệnh do virus bạn cần lưu ý đề phòng từ xa

Nhiễm trùng nhu mô não thường liên quan với viêm màng não (viêm não màng não). Đặc trưng lâm sàng của chúng là viêm não kèm bằng chứng tổn thương mô não, thường gồm thay đổi ý thức như thay đổi hành vi và ảo giác; dấu thần kinh khu trú như mất ngôn ngữ, liệt nửa người, cử động vô thức, và khiếm khuyết thần kinh sọ.

Viêm não do đâu?

Những sinh vật chịu trách nhiệm cho viêm màng não vô trùng cũng chịu trách nhiệm cho viêm não virus mặc dù tần suất tương đối khác nhau. Nguyên nhân phổ biến nhất của bệnh đơn lẻ ở người miễn dịch bình thường là herpes-viruses (HSV, VZV, EBV).

Viêm não do HSV nên được xem xét khi xuất hiện dấu thần kinh khu trú và khi tổn thương vùng dưới giữa thuỳ trán thái dương của não có thể xảy ra (ảo giác về mùi mất ngủ hành vi kỳ lạ, rối loạn trí nhớ).

Dịch tễ học của viêm não thường do arboviruses. WNV cũng chịu trách nhiệm cho phần lớn các trường hợp viêm màng não và viêm não do arbovirus tại Mỹ. Từ 2002, biểu hiện vận động nổi bật, bao gồm liệt giống bại liệt cấp, có thể xảy ra với WNV.

Tiêm vaccin là cách tốt nhất phòng chống viêm não

Tiêm vaccin là cách tốt nhất phòng chống viêm não

Chẩn đoán viêm não

Xét nghiệm dịch não tuỷ là cần thiết; thành phần dịch não tuỷ điển hình tương tự như viêm màng não do virus.

PCR cho phép chẩn đoán nhanh và chính xác các nguyên nhân do HSV, EBV, VZV, CMV, HHV-6, vàbenteroviruses.

Cấy virus dịch não tuỷ thường âm tính.

Huyết thanh học cũng có vai trò cho một vài virus. Xác định kháng thể IgM WNV là chẩn đoán của bệnh do WNV.

MRI là lựa chọn hình ảnh xác định vùng tăng tín hiệu T2. Tăng tín hiệu vùng trán ổ mắt và hai thái dương được nhìn thấy trong viêm não HSV, nhưng không là chẩn đoán (hình). EEG có thể gợi ý co giật hay cho thấy đợt sóng gai nhọn nổi bật thoáng qua, nền biên độ thấp gợi ý do HSV.

Tư vấn và chẩn đoán sớm bệnh sẽ tránh được những biến chứng đáng tiếc

Tư vấn và chẩn đoán sớm bệnh sẽ tránh được những biến chứng đáng tiếc

Viêm não do virus

Sinh thiết hiện nay được dùng khi PCR không xác định được nguyên nhân, xuất hiện bất thường khu trú trên MRI, lâm sàng diễn tiến xấu đi mặc dù điều trị với acyclovir và liệu pháp hỗ trợ.

Chẩn đoán phân biệt

Bao gồm cả nguyên nhân nhiễm trùng và không nhiễm trùng của bệnh; gồm bệnh mạch máu; áp xe và viêm mủ; nấm (Cryptococcus và Mucor), xoắn khuẩn (Leptospira), rickettsia vi khuẩn (Listeria), lao, và nhiễm mycoplasma; khối u; bệnh não nhiễm độc; SLE; và viêm não tuỷ rải rác cấp.

Điều trị viêm não do virus

• Tất cả bệnh nhân nghi ngờ viêm não HSV nên được điều trị với acyclovir IV (10 mg/kg mỗi 8h) trong khi đợi các dữ kiện chẩn đoán khác.

• Khi PCR xác nhận chẩn đoán bệnh, bệnh nhân nên điều trị từ 14 đến 21 ngày. Cân nhắc lặp lại PCR sau khi điều trị xong acyclovir; nếu PCR tiếp tục dương tính với HSV sau liều điều trị acyclovir tiêu chuẩn, bệnh nhân nên có điều trị khác, sau đó lặp lại PCR.

acyclovir có thể có lợi trong viêm não nghiêm trọng do EBV và VZV. Hiện không có sẵn điều trị cho bệnh do entervirus quai bị hay sởi.

• Ribavirin IV (15–25 mg/kg chia 3 liều mỗi ngày) có thể mang lại lợi ích cho viêm não do virus California (LaCrosse).

Viêm não do CMV nên được điều trị với ganciclovir (5 mg/kg mỗi 12h IV trên 1h, sau đó duy trì 5 mg/kg mỗi ngày), foscarnet (60 mg/kg mỗi 8h IV trên 1h, sau đó duy trì (60–120 mg/kg mỗi ngày), hay kết hợp hai thuốc; cidofovir (5 mg/kg IV một lần mỗi tuần trong 2 tuần, sau đó 2 hay nhiều liều khác mỗi 2 tuần, phụ thuộc đáp ứng; truyền dịch với nước muối sinh lý và tái điều trị với probenecid) có thể là điều trị thay thế cho người không đáp ứng.

   
Làm Mới
Bài viết cùng chuyên mục