Những thuốc trị bệnh gút biến chứng, có thể bạn chưa biết

Nhiễm khuẩn hạt tô phi (septic tophi) là một trong những biến chứng của bệnh gút mạn tính khá phổ biến ở Việt Nam do bệnh thường được chẩn đoán muộn, người bệnh không tuân thủ điều trị.

Nhiễm khuẩn hạt tô phi

Một thống kê cho thấy mầm bệnh gây nhiễm khuẩn hạt tô phi 75% là tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), E.coli và Klebsiella pneumoniae ngang nhau 12,5%. Người bị bệnh gút mạn tính có hạt tô phi ở những vị trí dễ cọ xát như bàn chân, bàn tay, lâu ngày dẫn đến loét và rò, chảy dịch, vỡ ra, là đường cho vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm khuẩn hạt tô phi. Triệu chứng tại chỗ: hạt tô phi rò, vỡ, chảy ra chất dịch màu trắng đục, có thể lẫn mủ màu vàng đục, không mùi hoặc có mùi hôi. Ở các khớp lân cận có thể sưng, nóng, đỏ đau biểu hiện một cơn gút cấp kèm theo. Bệnh nhân có hội chứng nhiễm khuẩn: sốt, kèm rét run, môi khô lưỡi bẩn, hơi thở hôi.

Lựa chọn thuốc điều trị

Trên thực tế, tất cả các vi khuẩn phân lập được thường kháng lại kháng sinh nhóm β-lactam. Kể cả các kháng sinh thuộc nhóm ức chế β-lactamase cũng bị kháng từ 75-100%. Vì vậy nên chọn các kháng sinh thuộc nhóm glycopeptid (như vancomycin), quinolon (như levofloxacin, oxacilin, lizonalid)...

Về nguyên tắc, cần thực hiện ngay việc cấy máu, cấy dịch vỡ từ hạt tô phi, soi tươi dịch, nhuộm gram để tìm vi khuẩn trước khi dùng kháng sinh.

Việc lựa chọn kháng sinh cần dựa vào: kinh nghiệm, tình hình kháng thuốc kháng sinh tại cộng đồng và trong bệnh viện; kết quả nhuộm gram, lứa tuổi, đường lây nhiễm để dự đoán vi khuẩn gây bệnh. Điều trị nên bắt đầu bằng một kháng sinh đường tĩnh mạch với thời gian dùng từ 2-4 tuần. Luôn kết hợp điều trị tại chỗ: rửa vết loét, thay băng hoặc chích rạch mở rộng, làm sạch tổ chức nhiễm khuẩn, can thiệp ngoại khoa khi cần thiết.

Khi chưa có kết quả cấy máu cấy dịch: dùng ngay kháng sinh oxacilin hoặc nafcilin clindamycin đường tĩnh mạch.

Nếu soi tươi nhuộm gram bệnh phẩm phát hiện cầu khuẩn gram dương thì dùng oxacilin hoặc nafcilin, hoặc clindamycin đường tĩnh mạch. Nếu nghi ngờ nhiễm tụ cầu vàng kháng kháng sinh thì dùng vancomycin truyền tĩnh mạch.

Trường hợp nghi nhiễm trực khuẩn mủ xanh cần phối hợp ceftazidim với kháng sinh nhóm aminoglycosid như gentamicin hoặc amikacin tiêm bắp hoặc pha truyền. Nếu cấy máu, hay cấy dịch vỡ hạt tô phi dương tính thì điều trị theo kháng sinh đồ hoặc tiếp tục sử dụng kháng sinh theo như điều trị ban đầu nếu thấy đáp ứng tốt.

Nhiễm khuẩn do tụ cầu vàng nhạy cảm với kháng sinh thì dùng oxacilin, nafcilin hoặc clindamycin. Tụ cầu vàng kháng methicilin thì dùng vancomycin trong 4 tuần.

Nhiễm khuẩn do phế cầu hoặc liên cầu do vi khuẩn nhạy với penicilin thì dùng penicilin đường tĩnh mạch. Nhiễm khuẩn do H. influenzae và S. pneumoniae kháng penicilin thì dùng ceftriaxon hoặc cefotaxim trong 2 tuần.

Do hầu hết các nhiễm vi khuẩn gram âm đường ruột thường nên dùng kháng sinh thế hệ 2 hoặc 3 dùng đường tĩnh mạch trong 3-4 tuần hoặc nhóm fluoroquinolon như levofloxacin đường tĩnh mạch hoặc uống. Nếu nhiễm khuẩn trực khuẩn mủ xanh cần phối hợp ceftazidim với mezlocilin hoặc với kháng sinh nhóm aminoglycosid.

Biện pháp điều trị phối hợp

Các biện pháp điều trị phối hợp: rửa sạch vùng tổn thương bằng nước muối sinh lý hoặc dung dịch iod pha loãng; đắp gạc tẩm dung dịch muối natri clorua 10% vừa có tác dụng chống nhiễm khuẩn, vừa tạo điều kiện mọc tổ chức hạt tại chỗ. Tiểu phẫu rạch rộng ổ tổn thương, làm sạch các tổ chức tinh thể urat lắng đọng, lấy bỏ tổ chức nhiễm

khuẩn khi có kèm nhiễm khuẩn phần mềm lân cận. Phẫu thuật loại bỏ tổ chức sụn, xương khi có nhiễm khuẩn sụn khớp hay xương kèm theo. Điều trị khống chế cơn gút cấp và khi cơn gút cấp ổn định cho các thuốc hạ acid uric máu. Nâng cao thể trạng cho bệnh nhân bằng chế độ dinh dưỡng hợp lý.

Phòng bệnh

Cần phòng và điều trị tốt bệnh gút, tránh để bệnh chuyển giai đoạn mạn tính có hạt tô phi hoặc hạt tô phi to ra. Nếu đã có hạt tô phi, đặc biệt ở những vị trí dễ cọ xát cần phòng chống loét bằng cách đi giày dép mềm, tránh gây rò, vỡ; nếu cần có thể cắt hạt tô phi dự phòng nếu hạt tô phi to, dễ vỡ hoặc ở vị trí hay cọ xát. Đảm bảo vô khuẩn tuyệt đối khi làm các thủ thuật, phẫu thuật ở gần vị trí hạt tô phi. Điều trị tốt các nhiễm khuẩn tại các cơ quan khác, nhất là ở da, phần mềm và xương.

   
Làm Mới
Bài viết cùng chuyên mục
Video nổi bật