Trẻ bị bệnh tim bẩm sinh: Chủ yếu là do yếu tố môi trường

Nguyên nhân của bệnh tim bẩm sinh do yếu tố gen chiếm 10%, còn lại đa số là ảnh hưởng từ môi trường sống gây nên.

Tim bẩm sinh là những dị tật tim từ trong bào thai và có thể gồm những dị tật của vách tim van tim cơ tim hoặc những mạch máu lớn xuất phát từ tim. Những dị tật xuất hiện từ giai đoạn bào thai, tiếp tục tồn tại cho đến khi thai nhi sinh ra và được phát hiện.

Trên thế giới, tỷ lệ mắc bệnh tim bẩm sinh là 8/1000 trẻ. Theo thống kê của bệnh viện Nhi Đồng 1, mỗi năm có khoảng 10.000 trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh Tần suất trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh tại Việt Nam có sự tương đồng với các nước phát triển trên thế giới.

TS.BS Vũ Quỳnh Nga - Phó giám đốc bệnh viện Tim Hà Nội - cho biết dị tật tim bẩm sinh có 2 loại là tăng dòng máu lên phổi dẫn đến suy tim và bệnh tim bẩm sinh có tím.

Với dạng tăng dòng máu lên phồi, trẻ có dấu hiệu thở nhanh, nông, ra mồ hôi trộm và chậm lên cân bệnh tim bẩm sinh có tím, máu lên phổi kém, không được trao đổi oxi thì trẻ có thể có biểu hiện như tím môi, thâm môi hoặc đầu chi. Với những trẻ lớn hơn có thể thấy ngón chân, tay dùi trống. Đặc biệt với những trường hợp thở chậm và nông thì trẻ đã bị thiếu oxy nặng cần được cấp cứu càng sớm càng tốt.

Tùy mức độ nặng/nhẹ mà những dấu hiệu của bệnh sẽ xuất hiện sớm hơn. Thậm chí với những trường hợp nhẹ thì có thể tới lúc trẻ lớn mới phát hiện bệnh. Khi trẻ có những dấu hiệu đó thì nên đưa trẻ đi khám để được chẩn đoán chính xác và điều trị cụ thể.

Trẻ bị tim bẩm sinh nếu không được chữa trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ (Ảnh minh họa: Internet)

Trẻ bị tim bẩm sinh nếu không được chữa trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ (Ảnh minh họa: Internet)

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Ước - Trưởng khoa tim mạch lồng ngực bệnh viện Việt Đức cho biết: Nguyên nhân của bệnh tim bẩm sinh do yếu tố gen chiếm 10%, còn lại đa số là ảnh hưởng từ môi trường sống gây nên.

Biến đổi gen

Một số trẻ sinh ra có rối loạn nhiễm sắc thể như bệnh Down hoặc những hội chứng liên quan đến nhiễm sắc thể thì có thể bị những tổn thương tim dẫn đến dị tật tim bẩm sinh.

Yếu tố môi trường

Những nơi mà có ô nhiễm môi trường nhiều hơn như ô nhiễm không khí những khí như CO, NO có thể làm gia tăng tỷ lệ tổn thương của vách tim như tỷ lệ thông liên nhĩ thông liên thất tăng lên hoặc tổn thương hẹp van động mạch phổi. Ô nhiễm về nước, tăng nồng độ kim loại nặng trong nguồn nước cũng làm gia tăng tỷ lệ trẻ mắc tim bẩm sinh.

Mẹ trong quá trình mang thai nhiễm vi-rút như Rubella hay mắc bệnh tiểu đường lupus ban đỏ thì cũng có thể gây nên dị tật tim bẩm sinh ở bào thai. Trong thời gian thai kỳ đặc biệt là 3 tháng đầu mẹ dùng những thuốc chứa chất độc đối với thai nhi mà có thể gây ra bệnh lý bẩm sinh như thuốc chống động kinh, ức chế thần kinh, rối loạn trầm cảm Bên cạnh đó, việc mẹ nghiện rượu hay hút thuốc lá cũng là một trong những yếu tố nguy cơ gây nên bệnh tim bẩm sinh ở trẻ.

Cho trẻ đi khám khi có dấu hiệu bất thường để sớm phát hiện và điều trị bệnh (Ảnh minh họa: Internet)

Cho trẻ đi khám khi có dấu hiệu bất thường để sớm phát hiện và điều trị bệnh (Ảnh minh họa: Internet)

Ngoài ra, những yếu tố khác như thực phẩm chế độ ăn uống cũng ảnh hưởng đến sức khỏe người mẹ, làm thay đổi nội môi cũng có thể tăng nguy cơ mắc bệnh bẩm sinhthai nhi

Trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ nghi ngờ bị tim bẩm sinh cần đến khám tại các cơ sở tim mạch nhi khoa để được tư vấn chính xác.

Trẻ sẽ được khám lâm sàng và làm một số thăm dò không xâm lấn để chẩn đoán xác định bệnh như chụp X-quang phổi, siêu âm tim hay điện tâm đồ. Với các thăm dò trên, phần lớn các trường hợp trẻ sẽ được chẩn đoán bệnh cụ thể.

Đối với một số trường hợp phức tạp hơn, sau khi thực hiện các xét nghiệm trên, trẻ có thể được nhập viện làm thông tim thăm dò để đánh giá một cách chính xác hơn các tổn thương tim bẩm sinh. Tuy nhiên hiện nay việc chẩn đoán tim bẩm sinh mới chỉ phát triển tại một số bệnh viện lớn, vì vậy vẫn còn nhiều khó khăn trong việc phổ cập rộng rãi trên toàn quốc.

Trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh nếu được phát hiện sớm, điều trị đúng cách có thể sống cuộc sống bình thường như những trẻ cùng trang lứa, hòa nhập tốt với xã hội. Chăm sóc tốt cho những trẻ này là vấn đề rất quan trong. Vì vậy, vai trò của cha mẹ là rất lớn trong việc phối hợp điều trị bệnh cho trẻ.

   
Làm Mới
Bài viết cùng chuyên mục
Video nổi bật