S Hút thuốc lá chính là tác nhân hàng đầu gây hại cho phổi

Ung thư biểu mô tuyến phổi là một dạng ung thư không phải tế bào nhỏ.

Ung thư không phải tế bào nhỏ chiếm 80% các trường hợp ung thư phổi, và trong số này gần 50% là ung thư biểu mô tuyến.

Tổng quan

Ung thư biểu mô tuyến phổi thường bắt đầu ở các mô nằm gần các phần ngoài của phổi, và thường xuất hiện một thời gian dài trước khi gây ra các triệu chứng và được chẩn đoán ung thư biểu mô tuyến là loại ung thư phổi phổ biến nhất ở phụ nữ và thường gặp ở những người không hút thuốc Đây cũng là loại ung thư phổi phổ biến nhất ở những người dưới 45 tuổi và ở người châu Á.

Trong khi các loại ung thư phổi không phải tế bào nhỏ khác như ung thư biểu mô tế bào vảy đang có chiều hướng giảm thì ung thư biểu mô tuyến phổi lại đang có chiều hướng tăng trong những năm gần đây. Người ta cho rằng, việc thêm đầu lọc vào điều thuốc khiến khói thuốc được hít sâu hơn vào trong phổi dẫn đến ung thư biểu mô tuyến.

Triệu chứng

ung thư biểu mô tuyến phổi thường bắt đầu ở các phần ngoài của phổi nên các triệu chứng đặc trưng của ung thư phổi như ho mãn tính và ho ra máu sẽ ít phổ biến, thường xuất hiện ở giai đoạn muộn của bệnh. Những triệu chứng sớm của ung thư biểu mô tuyến có thể bị bỏ qua như mệt mỏi khó thở nhẹ đau lưng đau vai hoặc đau ngực

Chẩn đoán

Khi chụp X-quang phát hiện thấy các bất thường, trước tiên bác sĩ thường nghi ngờ ung thư phổi. Bác sĩ sẽ cho làm thêm các xét nghiệm, bao gồm:

- Chụp CT ngực

- Xét nghiệm tế bào đờm

- Nội soi phế quản

- Chụp PET- để phát hiện khối u đang phát triển nhanh.

Căn cứ vào kết quả, bác sĩ sẽ lấy một mẫu mô để xác nhận chẩn đoán và tiến hành thêm các xét nghiệm để xem khối u đã lan rộng hay chưa.

Bác sĩ sẽ khuyến cáo bệnh nhân làm xét nghiệm về các chỉ báo phổi - những thay đổi di truyền thường xuất hiện ở một số loại ung thư biểu mô tuyến phổi. Những chỉ báo này có thể giúp bác sĩ ung thư học quyết định liệu pháp điều trị thích hợp nhất với bệnh nhân.

Các giai đoạn

Ung thư biểu mô tuyến phổi được chia thành 4 giai đoạn:

- Giai đoạn 1 - ung thư còn khu trú trong phổi và chưa lan rộng đến các hạch bạch huyết

- Giai đoạn 2 - ung thư đã lan rộng đến các hạch bạch huyết hoặc màng phổi, hoặc trong một số vùng của phế quản chính.

- Giai đoạn 3 - Ung thư đã lan đến các mô gần phổi.

- Giai đoạn 4 - Khối u đã lan rộng (di căn) tới các phần khác của cơ thể.

Nguyên nhân

Hút thuốc lá là nguyên nhân phổ biến nhất gây ung thư phổi nói chung, nhưng nhiều người không hút thuốc vẫn được chẩn đoán với ung thư biểu mô tuyến. Nguyên nhân phổ biến nhất ở người không hút thuốc là do tiếp xúc với khí radon trong nhà ung thư biểu mô tuyến phổi là bệnh đa yếu tố, nghĩa là có một số yếu tố kết hợp với nhau gây ra hoặc ngăn ngừa ung thư

Điều trị

Tùy thuộc vào giai đoạn bệnh, điều trị có thể bao gồm phẫu thuật hóa trị liệu xạ trị hoặc liệu pháp kết hợp. Nhiều thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành để tìm kiếm những liệu pháp mới điều trị căn bệnh ung thư này, và giúp xác định liệu pháp điều trị nào hiệu quả nhất.

- Phẫu thuật

Khi phát hiện ung thư biểu mô tuyến phổi ở các giai đoạn sớm, phẫu thuật có thể là cơ hội chữa khỏi bệnh.

- Hóa trị liệu

Hóa trị liệu có thể được áp dụng đơn thuần, kết hợp với xạ trị, hoặc tiến hành sau phẫu thuật ung thư phổi. Ví dụ về các loại thuốc hóa trị liệu có thể được sử dụng bao gồm pemetrexed (Altima) và cisplatin (Platinol).

- Liệu pháp đích

Liệu pháp điều trị đích là các thuốc được thiết kế chỉ để tấn công khối u Vì chúng hoạt động bằng cách nhắm vào protein trên tế bào ung thư, ngăn chặn các tín hiệu báo cho tế bào phân chia, hoặc ngăn chặn khối u tấn công các tế bào bình thường để phát triển. Liệu pháp này có thể có ít tác dụng phụ hơn so với hóa trị liệu truyền thống. Một số thuốc điều trị đích được sử dụng cho ung thư biểu mô tuyến gồm erlotinib (Tarceva), Gefitinib (Iressa) và Xylori (crizotinib).

- Xạ trị

Xạ trị có thể được sử dụng để điều trị ung thư hoặc để kiểm soát các triệu chứng liên quan đến sự di căn của ung thư.

Tiên lượng

Tỷ lệ sống thêm 5 năm đối với ung thư phổi nói chung là xấu, chỉ khoảng 18%. Đối với những bệnh nhân được chẩn đoán ở giai đoạn sớm của bệnh, tiên lượng sẽ tốt hơn nhiều.

   
Làm Mới
Bài viết cùng chuyên mục
Video nổi bật